Giới thiệu sơ bộ về dược liệuNgũ gia bì hương (hay còn gọi là Tế trụ ngũ gia bì) là một vị thuốc quý thuộc nhóm trừ phong thấp, mạnh gân cốt trong Đông y. Tại Việt Nam, loài cây này được ghi nhận nằm trong diện cần bảo tồn và ghi tên trong Sách Đỏ Việt Nam từ năm 1996.
Nhật Trường Kon Tum đam mê thảo dược đã tổng hợp cây thảo dược việt nam có tác dụng và độc tính cho người yêu Y Học Cổ Truyền Việt Nam có nơi tra cứu, nhờ công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam và Quốc Tế đưa ra ánh sáng khoa học của nhiều loài thảo dược bản địa.
Các thông tin định danh• Tên tiếng Anh: Slenderstyle spiny-ginseng (hoặc Acanthopanax)
• Tên khoa học: Acanthopanax gracilistylus W.W. Smith
• Tên đồng nghĩa: Acanthopanax spinosus Miq., Eleutherococcus nodiflorus
• Tên Đông y: Nam ngũ gia bì, Tế trụ ngũ gia bì, Thích gia bì, Xuyên gia bì
• Tên tiếng Trung: 细柱五加 (Xì zhù wǔjiā), Ngũ gia (五加)
• Tên dân gian: Ngũ hoa, Tiểu ngũ trảo phong
• Giải thích tên gọi:
• Ngũ gia: Mỗi lá thường có 5 lá chét mọc chụm lại như bàn tay (ngũ: năm; gia: lá chụm vào một cuống).
• Bì: Vỏ (vì bộ phận dùng làm thuốc chủ yếu là lớp vỏ của rễ hoặc vỏ thân).
• Hương: Cây có chứa tinh dầu thơm đặc trưng.
• Tế trụ: Chỉ cành/trụ mảnh (gracilistylus).
Lịch sử về dược liệu• Trong cổ thư Trung Quốc (như Thần Nông Bản Thảo Kinh), ngũ gia bì được xếp vào nhóm thượng phẩm ("chủ tâm phúc, phong tý, tứ chiuyển cân, giấu cốt khí, cửu phục khinh thân nhên niên").
• Tại Việt Nam, cây được các nhà thực vật học Liên Xô và Việt Nam (trong đó có Viện Dược liệu) phát hiện lần đầu tiên tại vùng Phó Bảng, tỉnh Hà Giang vào năm 1969.
Nguồn gốc & Nơi trồng• Nguồn gốc: Bản địa từ Trung Quốc, tại Việt Nam có thể do người dân vùng biên giới mang về trồng hoặc mọc hoang rải rác.
• Nơi trồng/phân bố tại Việt Nam: Chủ yếu ở các vùng núi cao, lạnh phía Bắc như Hà Giang (Phó Bảng), Lào Cai (Sa Pa, Bắc Hà - vùng Na Hồi).
Mô tả hình thái• Dạng sống: Cây bụi nhỏ mọc dựa, cao từ 1 - 3m.
• Thân và cành: Vỏ thân và cành màu xám nhạt, trên bề mặt có mang các gai thưa.
• Lá: Lá kép lông chim mọc so le hoặc tập trung 2 - 3 cái một, gồm 5 lá chét hình trứng ngược hoặc thuôn dài, dài 2 - 6 cm, rộng 1 - 3 cm; lá chét giữa to hơn các lá bên, mặt trên bóng sẫm.
• Hoa: Hoa nhỏ màu vàng lục, mọc thành tán đơn độc ở kẽ lá.
• Quả: Quả hình cầu dẹt, khi chín chuyển sang màu đen, chứa 2 hạt. Mùa hoa: tháng 9 - 10; mùa quả: tháng 11 - 2 năm sau.
Phân bố• Thế giới: Phân bố chủ yếu tại các tỉnh miền Nam và miền Trung Trung Quốc.
• Việt Nam: Rất hẹp, chỉ gặp ở vùng cao biên giới phía Bắc (Hà Giang, Lào Cai).
Bộ phận làm thuốc• Chủ yếu dùng vỏ rễ (Cortex Acanthopanacis gracilistyli) và vỏ thân phơi hay sấy khô.
Phương thức thu hái và chế biến• Thu hái: Thường thu hái vỏ rễ hoặc vỏ thân vào mùa thu hoặc mùa xuân (lúc cây nhựa đang lưu động mạnh, dễ bóc vỏ).
• Chế biến: Đào rễ hoặc chặt cành, rửa sạch, bóc lấy vỏ, phơi hay sấy khô. Có khi dùng tươi hoặc tẩm rượu sao qua.
Thành phần hóa học• Chứa hợp chất thơm nổi bật: 4-methoxysalicyaldehyd
• Các axit hữu cơ, glycosid nhóm lignan và saponin triterpenoid.
• Tinh dầu toàn cây tạo mùi thơm đặc trưng.
Tính vị và Quy kinh• Tính vị: Vị cay, đắng, tính ôn (ấm).
• Quy kinh: Quy vào hai kinh Can và Thận.
Có hương thơm tinh dầu nếu có• Toàn cây có chứa tinh dầu nhẹ, mùi thơm dễ chịu, giúp xua đuổi côn trùng và thư giãn.
Công dụng theo Y học cổ truyền• Chủ trị: Khư phong thấp, cường gân cốt, bổ gan thận.
• Chỉ định:
• Chữa phong hàn thấp tý, đau nhức xương khớp, tê bại chân tay, đau lưng mỏi gối.
• Trẻ em gân cốt yếu chậm biết đi, phụ nữ khí hư, chấn thương do té ngã, gãy xương.
• Giúp tinh thần minh mẫn, tăng cường trí nhớ, chống mệt mỏi.
Những bài thuốc cổ phương có sử dụng1. Bài thuốc chữa thấp khớp (Rượu ngũ gia bì truyền thống):
• Thành phần: Ngũ gia bì hương (50g), Thanh phong đằng, Đương quy, Xuyên khung, Mộc qua, Uy linh tiên, Bạch chỉ, Bạch truật, Hồng hoa, Ngưu tất, Đảng sâm, Khương hoàng... ngâm với 20 lít rượu trắng.
• Công dụng: Trị chân tay tê dại, phong thấp tý thống, đau lưng mỏi gối.
2. Bài đơn giản hỗ trợ đau nhức xương khớp:
• Thành phần: Ngũ gia bì hương 15g, Thương truật 10g, Tần cửu 10g, Hy thiêm thảo 10g, sắc uống ngày một thang.
Công dụng theo Y học hiện đại & Dược tính học• Chống viêm và giảm đau: Chiết xuất từ vỏ rễ giúp ức chế các chất trung gian gây viêm, làm giảm triệu chứng sưng đau khớp mạn tính.
• Tăng cường miễn dịch và thích nghi (Adaptogen): Tương tự nhân sâm, giúp cơ thể chống lại stress, nâng cao sức đề kháng và giảm mệt mỏi thể chất lẫn tinh thần.
• An thần, cải thiện trí nhớ: Các hoạt chất trong dược liệu hỗ trợ điều hòa hệ thần kinh trung ương.
Ứng dụng trong y học dân gian của các bộ tộc trên thế giới• Ở vùng cao Tây Nam Trung Quốc và các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Việt Nam (như người H'Mông, Dao), búp non hoặc vỏ thân được dùng nấu canh hoặc ngâm rượu xoa bóp sau khi lên nương rẫy mệt mỏi, trị gãy xương do ngã cây.
Những nghiên cứu khoa học về loại thực vật này• Các công trình của Viện Dược liệu và các đề tài nghiên cứu nhân giống vô tính (như nghiên cứu giai đoạn 2021–2022 về giâm hom sử dụng chất kích thích ra rễ IBA 1.000 ppm) đã chứng minh khả năng bảo tồn và nhân giống loài cây quý hiếm này.
• Nghiên cứu về hàm lượng 4-methoxysalicyaldehyd trong vỏ rễ giúp chuẩn hóa chất lượng dược liệu đầu vào cho ngành dược học cổ truyền.
Cách sử dụng & Cách bào chế• Liều dùng: 3g đến 15g mỗi ngày dạng thuốc sắc, nấu cao hoặc ngâm rượu.
• Bào chế: Rửa sạch, thái mỏng, phơi khô dùng dần hoặc tẩm rượu sao thơm để tăng tác dụng quy kinh Can - Thận.
Tác dụng phụ, Độc tính & Cách giải độc• Tác dụng phụ / Thận trọng: Do tính ôn và khô, người thuộc thể âm hư hỏa vượng, cơ địa nhiệt, bốc hỏa, táo bón không nên dùng lâu dài.
• Độc tính: Ở liều điều trị thông thường, dược liệu khá an toàn. Dùng quá liều có thể gây khô miệng, hồi hộp hoặc kích thích nhẹ.
• Cách xử trí khi quá liều: Ngưng sử dụng ngay, bổ sung nước mát hoặc dùng thảo mộc thanh nhiệt (như cam thảo sắc uống).
Tính phổ biến trên thị trường & Giá trị kinh tế• Tính phổ biến: Khá hiếm trên thị trường do nguồn tự nhiên bị khai thác cạn kiệt; phần lớn ngũ gia bì bày bán phổ biến hiện nay là các loài họ hàng khác (như ngũ gia bì chân chim - Schefflera hoặc ngũ gia bì gai - Acanthopanax trifoliatus) chứ không phải đúng chuẩn Acanthopanax gracilistylus.
• Giá trị kinh tế: Thuộc nhóm dược liệu đặc sản vùng cao, giá trị cao nhưng diện tích trồng còn khiêm tốn.
Kỹ thuật trồng dược liệu & Vùng đất phát triển phù hợp• Vùng đất phù hợp: Thích hợp với vùng khí hậu mát mẻ, nhiệt độ ôn hòa (như Tây Bắc, độ cao trên 1.000m), đất tơi xốp, giàu mùn, thoát nước tốt.
• Nhân giống: Chủ yếu nhân giống bằng phương pháp giâm hom (chọn cành bánh tẻ từ cây mẹ trên 3 tuổi, cắt hom dài, chấm chất kích thích ra rễ IBA khoảng 1.000 ppm vào vụ xuân).
Được ghi chép trong y văn cổ & Trích dẫn uy tín• Ghi nhận trong Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam (Tập 2, trang 413-415).
• Ghi nhận trong danh mục dược liệu kinh điển của Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của GS. Đỗ Tất Lợi.
• Được quản lý bảo tồn tại Trung tâm Thông tin Dược liệu và Viện Dược liệu Việt Nam.